Không bật xi nhan khi chuyển hướng có thể bị xử phạt bao nhiêu tiền? - Trung Tâm Lái Xe 9573

Không bật xi nhan khi chuyển hướng có thể bị xử phạt bao nhiêu tiền?

Đèn xi nhan là tín hiệu báo trước khi chuyển làn đường; chuyển hướng để đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông. Tuy nhiên, trên thực tế; Không nhiều người biết những quy định cụ thể về những trường hợp phải bật đèn xi nhan. Điều này gây ra tình trạng; Nhiều trường hợp người đi đường không báo hiệu khi rẽ sang hướng khác. Vậy, không bật xi nhan khi chuyển hướng có thể bị phạt bao nhiêu? Hãy cùng Bộ phận tư vấn pháp luật của trung tâm lái xe 9573 tìm hiểu vấn đề này.

Cơ sở pháp lý

  • Luật giao thông đường bộ 2008
  • Nghị định 100/2019 / NĐ-CP xử phạt vi phạm giao thông đường bộ và đường sắt

Khong bat xi nhan khi chuyen huong co the bi xu phat bao nhieu tien

Khi nào bạn cần xi nhan?

Theo quy định tại Điều 14, Điều 15, Điều 16, Điều 18 Luật Giao thông đường bộ 2008; Các trường hợp phải bật đèn xi nhan bao gồm:

  • Chuyển làn đường;
  • Vượt xe;
  • Chuyển hướng xe (rẽ phải, rẽ trái, quay đầu xe);
  • Cho xe chuyển bánh khỏi vị trí đỗ, chạy sát vỉa hè để dừng, đỗ.

Ngoài ra, trong quá trình tham gia giao thông để đảm bảo an toàn; Cục Cảnh sát giao thông khuyến cáo bật xi nhan trong các trường hợp sau:

  • Khi đi vào khúc cua: Người điều khiển phương tiện đi vào khúc cua (không rẽ, chuyển hướng, chuyển làn) cần bật đèn xi nhan.
  • Khi đi qua vòng xuyến: Bật tín hiệu theo nguyên tắc “đến thì rẽ phải” – khi vào bùng binh rẽ trái, khi ra khỏi bùng binh rẽ phải.
  • Khi lùi xe vào hẻm: Nên bật đèn xi nhan vì tầm nhìn của người điều khiển phương tiện bị hạn chế, khó điều chỉnh hướng xe và tạo điều kiện cho các phương tiện khác di chuyển.
  • Trường hợp đảm bảo an toàn, không gây nguy hiểm cho người đi đường phía sau hoặc người đi ngược chiều thì không phải bật đèn tín hiệu.
  • Qua ngã ba chữ Y: Nếu có tín hiệu báo rẽ thì bật đèn xi nhan như bình thường. Nếu không có biển báo mà đi thẳng vào nhánh rẽ phải (từ chân chữ Y trở lên) thì không cần xi nhan.

Khoảng cách tối thiểu để bật xi nhan trước khi chuyển hướng

Nếu tài xế bật xi nhan chậm; nghĩa là bạn đang chuyển hướng / chuyển hướng, nhớ bật xi nhan; sẽ bị phạt như trường hợp không có tín hiệu báo rẽ.

Mặc dù văn bản pháp luật không quy định rõ phải bật xi nhan trước bao nhiêu mét, nhưng bật quá sớm hoặc quá muộn vẫn có thể gây ra va chạm và tai nạn.

Thông thường, người đi ô tô nên bật xi nhan trước điểm rẽ khoảng 30m. Đối với người đi xe máy, an toàn nhất là nên bật xi nhan trước khoảng cách 10-15 m. Một điều lưu ý nữa là bạn nên tắt xi nhan; khi bạn đã đi hết lượt để tránh bị phạt. Nếu tắt quá sớm, nhà điều hành có thể bị tính phí do lỗi không có tín hiệu.

Không bật xi nhan khi chuyển hướng bị phạt bao nhiêu?

Điều 13 Luật Giao thông đường bộ 2008; quy định “Trên đường có nhiều làn xe chạy cùng chiều; phân biệt bằng vạch kẻ làn đường; người điều khiển phương tiện phải cho xe đi trên một làn đường và chỉ được chuyển làn đường ở những nơi được phép; Khi chuyển làn đường phải có tín hiệu báo trước và đảm bảo an toàn.”

Đối với xe máy không bật xi nhan khi chuyển hướng.

Đối với xe máy, mức phạt không có tín hiệu báo rẽ được quy định như sau:

  • Chuyển làn đường mà không có cảnh báo: Phạt hành chính từ 100.000 – 200.000 đồng (trước đây phạt từ 80.000 – 100.000 đồng).
  • Chuyển hướng không có tín hiệu báo rẽ (trừ trường hợp điều khiển xe đi theo hướng cong của phần đường không giao nhau cùng mức): Phạt tiền từ 400.000 – 600.000 đồng (trước đây phạt từ 300.000 – 400.000 đồng. )

Đối với ô tô không bật xi nhan khi chuyển hướng.

  • Chuyển làn đường mà không có cảnh báo: Phạt tiền từ 400.000 – 600.000 đồng (trước đây phạt từ 300.000 – 400.000 đồng).
  • Chuyển hướng không có tín hiệu báo rẽ (trừ trường hợp điều khiển xe đi theo hướng cong của phần đường không giao nhau cùng mức): Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1 triệu đồng (trước đây phạt từ 600.000 đồng. ) – 800.000 VNĐ).
  • Chuyển làn đường không có cảnh báo trước khi chạy trên đường cao tốc: Phạt tiền từ 03 đến 05 triệu đồng, tước giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng. (trước đây bị phạt từ 800.000 đồng đến 1,2 triệu đồng).

Phương thức nộp phạt lỗi không bật xi nhan khi chuyển hướng

Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 10 Nghị định 81/2013 / NĐ-CP và Khoản 16 Điều 1 Nghị định 97/2017 / NĐ-CP thì cá nhân, tổ chức vi phạm giao thông thực hiện nộp phạt theo quy định đến một tập hợp các quy định. dưới các hình thức sau:

  1. – Nộp trực tiếp tại Kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng thương mại nơi Kho bạc Nhà nước uỷ nhiệm thu tiền phạt ghi trong quyết định xử phạt.
  2. – Nộp trực tiếp hoặc chuyển khoản vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước ghi trong quyết định xử phạt.
  3. – Nộp trực tiếp cho người có thẩm quyền xử phạt khi thuộc một trong các trường hợp sau:
    • Trường hợp xử phạt hành chính mà không lập biên bản (áp dụng trong trường hợp phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt). phạt vi phạm hành chính tại chỗ).
    • Ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, miền núi đi lại khó khăn thì cá nhân, tổ chức bị xử phạt có thể nộp tiền phạt cho người có thẩm quyền xử phạt.
  4. – Nộp vào Kho bạc Nhà nước qua dịch vụ bưu chính công ích (ví dụ: Bưu điện).

Ngoài ra, từ ngày 1/7/2020, người dân cũng có thể nộp phạt vi phạm giao thông trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Người vi phạm có thể tra cứu và trả tiền vi phạm giao thông trực tuyến. Khi đó, CSGT căn cứ vào biên lai thu tiền phạt để trả hồ sơ cho người dân qua đường bưu điện.

 

Các câu hỏi thường gặp

Đi xe máy không có giấy đăng ký xe có bị tạm giữ xe không?

Theo Điểm a Khoản 2 Điều 17 Nghị định 100/2019 / NĐ-CP quy định xử phạt người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe mô tô điện), xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy định về điều kiện của xe khi – Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Điều khiển xe không có Giấy chứng nhận đăng ký xe theo quy định hoặc sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký xe đã hết hạn sử dụng ;

Đi xe đạp được chở tối đa bao nhiêu người? 

Căn cứ Khoản 1 Điều 31 Luật Giao thông đường bộ 2008 quy định như sau:

Người điều khiển xe đạp máy chỉ được chở một người, trừ trường hợp chở thêm một trẻ em dưới 7 tuổi. có thể chở tối đa hai người.

Người điều khiển xe đạp phải tuân thủ quy định tại khoản 3 Điều 30 của Luật này; Người ngồi trên xe đạp máy khi tham gia giao thông phải tuân theo quy định tại khoản 4 Điều 30 của Luật này.

Như vậy, theo quy định trên thì người điều khiển xe đạp được chở tối đa là 2 người, tức là số người trên xe đạp đó không quá 3 người (kể cả người điều khiển).

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.