Đi xe buông thả hai tay có thể bị xử phạt bao nhiêu tiền theo quy định? - Trung Tâm Lái Xe 9573

Đi xe buông thả hai tay có thể bị xử phạt bao nhiêu tiền theo quy định?

Việc điều khiển xe đạp, xe máy luôn cần người có tay lái vững vàng; để giảm thiểu rủi ro xảy ra tai nạn. Tuy nhiên, vì chủ quan cũng như muốn thể hiện; đến nỗi nhiều người tham gia giao thông đã buông lỏng cả hai tay; khi lái xe gây lo lắng cho những người tham gia giao thông khác; cũng như cho bạn bè và gia đình của họ. Vậy, đi xe buông cả hai tay có thể bị phạt bao nhiêu tiền theo quy định? Hãy cùng Bộ phận tư vấn pháp luật của trung tâm 9573 tìm hiểu vấn đề này.

Cơ sở pháp lý

  • Luật giao thông đường bộ 2008
  • Nghị định 100/2019 / NĐ-CP xử phạt vi phạm giao thông đường bộ và đường sắt

Di xe buong tha hai tay co the bi xu phat bao nhieu tien theo quy dinh

Đi xe buông cả hai tay có vi phạm pháp luật không?

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 4 Luật Giao thông đường bộ; Quy định về nguyên tắc hoạt động giao thông đường bộ như sau:

“Người tham gia giao thông phải có ý thức tự giác; chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ giao thông, giữ an toàn cho bản thân và những người xung quanh. Chủ phương tiện, người điều khiển phương tiện phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc bảo đảm an toàn cho phương tiện tham gia giao thông đường bộ.”

Tuy nhiên, không phải ai khi tham gia giao thông; ý thức về sự an toàn của bản thân và của những người tham gia giao thông khác. Vì vậy, pháp luật đã quy định về các hình phạt; đối với Người đi xe đạp, người đi xe đạp có thể buông cả hai tay.

Đi xe máy buông 2 tay bị phạt bao nhiêu tiền?

Người điều khiển xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy; Bạn không được phép buông tay khi đang điều khiển phương tiện. Đây là quy định được pháp luật thừa nhận; tại điểm đ khoản 3 Điều 30 Luật Giao thông đường bộ 2008. Như vậy, nếu người điều khiển xe máy buông cả hai tay khi đang tham gia giao thông; sẽ bị xử lý hành chính theo quy định của pháp luật.

Đối với người điều khiển xe máy; xe mô tô (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự khác; nhưng buông lỏng cả hai tay khi tham gia giao thông đường bộ; sẽ bị xử phạt với mức phạt theo quy định; tại điểm a khoản 8 Điều 6 Nghị định 100/2019 / NĐ-CP như sau:

“Điều 6. Xử phạt người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), xe mô tô, xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

8. Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với người điều khiển phương tiện vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Buông hai tay khi đang điều khiển phương tiện; dùng chân để điều khiển phương tiện; ngồi sang một bên điều khiển phương tiện; nằm trên yên điều khiển phương tiện; thay đổi người điều khiển khi xe đang chạy; quay đầu về phía sau để điều khiển phương tiện hoặc bịt mắt để điều khiển phương tiện; ”

Ngoài ra, điểm c khoản 10 Điều 6 Nghị định 100/2019 / NĐ-CP còn quy định thêm các hình thức xử phạt; Trong trường hợp này sẽ bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe.

Như vậy, người tham gia giao thông buông lỏng cả hai tay khi điều khiển xe máy sẽ bị áp dụng các biện pháp xử lý sau:

  • Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng;
  • Bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng;

Đi xe đạp, xe máy buông hai tay bị phạt bao nhiêu tiền?

Tương tự với xe mô tô, người điều khiển xe đạp, xe gắn máy buông tay; khi tham gia giao thông cũng sẽ bị phạt vi phạm hành chính. Trong trường hợp này, điểm a khoản 2 Điều 8 Nghị định 100/2019 / NĐ-CP quy định như sau:

“Điều 8. Xử phạt người điều khiển xe đạp, xe máy (kể cả xe đạp điện) và người điều khiển phương tiện thô sơ khác vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

2. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người điều khiển phương tiện vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Khi điều khiển xe đạp, xe máy phải buông cả hai tay; chuyển hướng đột ngột phía trước xe cơ giới đang chuyển động; dùng chân để điều khiển xe đạp, xe máy; ”

Như vậy, hành vi buông lỏng cả hai tay khi điều khiển xe đạp, xe máy sẽ bị xử lý với hình thức phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Người vi phạm có thể tra cứu và trả tiền vi phạm giao thông trực tuyến

Người điều khiển xe đạp, xe máy buông cả hai tay bị xử lý hình sự như thế nào?

Hành vi điều khiển xe đạp, xe máy ngoài việc bị xử phạt hành chính; còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành; “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; quy định tại Điều 260 BLHS năm 2015.

Theo đó, mức phạt tối đa đối với hành vi vi phạm lên đến 15 năm tù. Khi đó, người phạm tội cần có luật sư để có cách tốt nhất để bảo đảm quyền lợi của mình. Tất nhiên, trên thực tế; Với các phương tiện tốc độ thấp như xe đạp, xe máy hiếm khi xảy ra tình trạng chết người.

Hàng năm, số người chết vì tai nạn giao thông luôn ở mức báo động, nhưng hậu quả của nó để lại rất nặng nề: con mất cha, vợ mất chồng, cha mất mẹ và ngược lại; còn người cố ý hoặc vô ý gây tai nạn giao thông phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

 

Các câu hỏi thường gặp

Đua xe trái phép là gì?

Đua xe trái phép là hành vi của 2 người điều khiển xe mô tô, xe máy trở lên; ô tô, xe cơ giới khác do người đủ năng lực trách nhiệm hình sự chạy trên đường; gây thiệt hại cho mọi người xung quanh.

Đua xe trái phép là vi phạm vì? trái pháp luật là vi phạm hành chính; tuy nhiên, khi đua xe trái phép gây thiệt hại về người và tài sản; sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Xử phạt hành chính đối với hành vi đua xe trái phép?

Mức 1: Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Tụ tập để cổ vũ, kích động điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định; lạng lách, đánh võng, rượt đuổi nhau trên đường hoặc đua xe trái phép;

b) Đua xe đạp, mô tô, xích lô, thú kéo; Thú cưỡi đua xe trái phép trên đường.

Mức 2: Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng; chống người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện trái phép.

Mức 3: Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi đua xe trái phép.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.